Những nguy cơ ngộ độc hải sản

Hải sản là món ăn nhiều dinh dưỡng và cũng là món ưa thích của nhiều người. Hải sản thường được tiêu thụ mạnh vào mùa hè, mùa du lịch nhưng hiện nay, điều kiện kinh tế phát triển hơn, trong ngày Tết, nhiều gia đình cũng có thói quen tích trữ hải sản trong tủ lạnh để tránh những món ăn chứa nhiều thịt mỡ gây ngán. Vậy nên tích trữ, ăn hải sản thế nào cho an toàn?

Tránh các loại hải sản có thể chứa chất độc

Có loại hải sản luôn luôn có chất độc, có loại thỉnh thoảng mới gây độc. Bằng mắt thường và cảm giác khi ăn uống, chúng ta không thể phát hiện có chất độc hay không, vì vậy với các loại hải sản này bạn cần biết và tránh ăn. Các loại độc tố này thường không bị phá hủy bởi nhiệt nóng khi đun nấu và các biện pháp chế biến thông thường. Khi đi du lịch, nên hỏi kỹ thông tin từ những người dân địa phương.

Những nguy cơ ngộ độc hải sản 1

Hạn chế ăn hải sản tươi sống để phòng tránh ngộ độc. Ảnh: TL

Không ăn hải sản đã chế biến từ lâu

Hải sản nói chung là các loại thực phẩm nguồn gốc từ động vật, rất giàu chất đạm (protein). Khi bị chết hoặc bảo quản ở nhiệt độ thông thường, chúng rất nhanh chóng bị các vi khuẩn xâm nhập và phát triển nên dễ gây bệnh. Với một số loại hải sản như cá ngừ, cá thu, vi khuẩn thậm chí biến thịt của cá thành chất độc (chuyển một loại axit amin là histidin trong thịt cá thành chất độc histamine) gây ngộ độc (đỏ da, nóng bừng, trống ngực, đau đầu, khó thở…).

Các hải sản đông lạnh có thể an toàn về mặt vi khuẩn nếu được bảo quản đông lạnh liên tục từ khi còn sống tới khi bạn mua và chưa quá hạn sử dụng.

Lưu ý thông tin về nhiễm độc nước biển, ô nhiễm môi trường vùng biển

Bên cạnh các vấn đề ô nhiễm môi trường do hóa chất bạn có thể biết rõ, có một hiện tượng tự nhiên đặc biệt xảy ra chỉ riêng với biển có thể dẫn tới ngộ độc là hiện tượng “thủy triều đỏ”. Đây là hiện tượng nước biển đổi màu bất thường như hồng, tía, xanh lục, nâu hay đỏ do một số loại tảo biển phát triển ồ ạt với số lượng lớn bất thường. Một số loại tảo có chứa chất độc. Các hải sản lúc bình thường có thể không có độc nhưng khi có thủy triều đỏ có thể mang tảo độc và gây ngộ độc. Không nên ăn các hải sản được đánh bắt ở vùng có “thủy triều đỏ”, đặc biệt các loài động vật thân mềm có hai mảnh vỏ (như trai, sò, ngao,…).

Không ăn gỏi hải sản

Các loại vi khuẩn rất dễ phát triển trong hải sản. Vì vậy, không nên ăn hải sản tái hoặc tươi sống, hãy từ bỏ thói quen ăn gỏi hải sản và các loại thức ăn sống khác để phòng tránh ngộ độc thực phẩm, bệnh tiêu chảy cấp. Cần nấu chín hải sản trước khi ăn.

Phát hiện sớm các dấu hiệu ngộ độc

Có nhiều loại hải sản với nhiều loại nguyên nhân gây độc khác nhau nên biểu hiện ngộ độc cũng rất đa dạng: từ đau bụng, nôn, tiêu chảy, sốt đến các biểu hiện thần kinh như tê môi lưỡi, co giật, liệt, mờ mắt, lẫn lộn, hôn mê, hay tim mạch như loạn nhịp tim, tụt huyết áp, hay hô hấp như khó thở, thậm chí tử vong. Khi ăn hải sản, nếu thấy có một trong số các biểu hiện trên cần nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

(Theo tài liệu của Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai)

Tác hại của thịt tồn dư chất kích thích với sức khỏe

Nội tiết tố sinh dục progesterol, testosteron, estradiol -17β đã từng được dùng để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi với mục đích tăng trọng và nâng cao hiệu quả của thức ăn. Tuy nhiên do nhận thấy tác hại rõ rệt của progesterol, testosteron có liên quan đến sức khỏe cộng đồng như hiện tượng đồng tính luyến ái tăng, giảm mật độ tinh trùng, tinh hoàn lệch, ẩn ở trẻ em trai và tuổi dậy thì ở trẻ em gái sớm hơn; estradiol -17β có nguy cơ gây ung thư nên sau năm 1999 nhiều nước đã cấm dùng các hormon này bổ sung vào thức ăn chăn nuôi với mục đích tăng trọng.

Dexamethasone thuộc nhóm kháng viêm, có tác dụng giữ muối, giữ nước, tăng quá trình tích tụ mỡ làm cho con vật lớn nhanh. Loại thuốc này tồn dư trong thịt và các sản phẩm gia súc có thể gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người tiêu dùng như cường thượng thận, loãng xương, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch.

Clenbuterol gần đây đã được coi như là chất siêu tăng trọng nhất là lượng thịt nạc, dùng chủ yếu trước khi gia súc xuất chuồng khoảng 21 ngày. Tác hại của clenbuterol rất khó nhận thấy ngay. Dùng thực phẩm tồn dư chất này sau một thời gian mới có những biểu hiện rối loạn nhịp tim, tổn thương tế bào cơ tim, run cơ, tăng huyết áp và có thể gây đột biến tế bào, tạo điều kiện phát triển các khối u ác tính.

BS. Nguyễn Ngọc Minh

Tương kỵ thực phẩm

Có nhiều loại thực phẩm khí chế biến cùng nhau đã trở thành tương kỵ, ảnh hưởng không ít đến sức khỏe.

Gan heo trộn chung giá đậu: trong gan heo hay gan động vật nói chung, theo các nhà khoa học thì có hàm lượng đồng, sắt và một số nguyên tố kim loại khác khá cao, khi kết hợp với giá đậu, trong giá đậu có chứa nhiều vitamin C. Nếu xào giá cùng với gan heo hay gan động vật khác, các ion kim loại trong gan sẽ bị vitamin C trong giá đậu oxy hóa làm mất hết công hiệu, từ đó giá đậu sẽ biến thành chất bã và không còn giá trị dinh dưỡng nữa.

Gan heo và giá đậu được cho là tương kỵ

Mật ong với sữa đậu nành hay đậu hũ non: trong mật ong chứa acid formic khi gặp đậu nành có nhiều protein sẽ gây ra hiện tượng kết tủa, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy bụng rất khó chịu.

Thịt gà trộn với rau kinh giới: khi trộn món gỏi gà hay chế biến món gà luộc ăn với rau kinh giới, người bệnh dễ bị chứng đầy bụng, khó tiêu, nếu ăn thường xuyên có thể khiến bị táo bón kéo dài.

Ăn thịt dê hay thịt chó với uống nước trà (chè): trong thịt dê và thịt chó có rất nhiều protein, nên sau khi ăn mà uống nước trà ngay sẽ tạo ra phản ứng giữa tanin trong trà với protein và salicilate trong thịt dê – chó tạo thành chất tanalbit. Chất này làm se niêm mạc ruột, giảm nhu động ruột, khiến ruột tích tụ nhiều chất có hại, dẫn đến táo bón hoặc có thể gây nguy cơ ung thư.

Dùng hải sản với một số loại hoa quả: các loại hải sản như tôm, cua rất giàu protein và canxi, trong khi đó các loại hoa quả như nho, cam, quýt, bưởi lại rất nhiều acid tanic, vitamin C. Nếu dùng chung hai loại thực phẩm trên cùng lúc, chất acid từ trái cây sẽ nhanh chóng phá hủy các thành phần dinh dưỡng trong hải sản; trở thành những độc chất có thể gây kích thích nhu động ruột, dẫn đến triệu chứng khó tiêu, đầy bụng, nặng hơn là nôn ói…

Ngoài ra, các loại động vật có vỏ, sống dưới nước như tôm, cua, ốc, hến… có chứa rất nhiều chất asen hóa trị 5. Chất này không gây độc cho cơ thể, nhưng nếu ta ăn các loại thực phẩm này mà uống vitamin C hoặc ăn các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin C như cam, chanh, cà chua, nho... sẽ làm cho asen hóa trị 5 chuyển thành asen hóa trị 3, tức là chất thạch tín, một độc chất có thể gây chết người. Cho nên, khi ăn các thức ăn hải sản nói trên khi cần dùng các trái cây rau quả thì cần phải ít nhất sau 4 giờ.

Hành với đậu hũ: trong hành có chứa chất acid oxalic, và trong đậu hũ có nhiều canxi. Nếu chúng ta ăn cùng một lúc thì các chất acid oxalic sẽ dễ dàng kết hợp với canxi để tạo thành oxalat calci, là chất lắng đọng màu trắng mà cơ thể không sao hấp thụ được, dễ tạo nên bệnh sỏi thận.

Sữa với đường ở nhiệt độ cao: chất lysine trong sữa bò kết hợp với đường sẽ sinh ra lysine gốc glucose, chất này gây hại cho cơ thể. Tuy nhiên, nếu đun sôi sữa trước, để nguội, rồi mới cho đường vào thì phản ứng hóa học trên sẽ không xảy ra.

Khoai lang với quả hồng: trong quả hồng có chứa chất tanin và pectin; còn trong khoai lang thì chứa nhiều tinh bột và đường glucose. Nếu ta ăn nhiều khoai lang, sẽ kích thích dạ dày tiết nhiều acid clohydric; sau đó ta ăn quả hồng, khiến cho acid clohydric từ dạ dày tiết ra sẽ kết hợp với chất tanin và pectin trong quả hồng, sẽ hình thành sỏi lắng đọng lại ở dạ dày. Nếu nặng có thể gây loét và chảy máu dạ dày. Người bị đau dạ dày phải chú ý để tránh ăn cùng lúc những món này.

Dưa leo với các món chứa nhiều vitamin C: trong dưa leo có chứa một loại men làm phân giải vitamin C, khi ta ăn dưa leo với các món có vị chua, chất men này sẽ làm mất lượng vitamin C nạp vào cơ thể, kể cả cà rốt và củ cải cũng vậy. Nguyên do là trong cà rốt có chứa một loại enzyme có tác dụng phân giải vitamin C, củ cải chứa hàm lượng vitamin C rất cao, do vậy khi có mặt của cà rốt thì vitamin C cao trong củ cải sẽ bị phân hủy đi. Khi dùng các thực phẩm trên chung và kéo dài thì cần chú ý bổ sung vitamin C cần thiết cho cơ thể.

Trứng gà với óc heo và sữa đậu nành: trong sữa đậu nành chứa thành phần trypsine có tính ức chế các protein trong trứng gà, gây chứng khó tiêu, đầy bụng. Dùng trứng chung với óc heo sẽ làm tăng cholesterol trong máu.

BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trung niên

Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường gặp những bệnh bỗng từ đâu đến khiến họ bối rối và khó khăn khi xử trí. Ðó là những cơn bốc hỏa đột ngột, chân tay nhức mỏi thường xuyên, đau đầu triền miên, hay bị hồi hộp, khó thở...

Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người, nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Tuổi mãn kinh, phụ nữ rất dễ bị loãng xương, đặc biệt những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid... cũng dễ bị loãng xương.

Phòng ngừa: Cần có chế độ ăn uống tăng canxi ngay từ tuổi vị thành niên, vận động và tập thể dục vừa sức, đồng thời tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc corticoid. Nên bổ sung 1.000mg canxi và 200 - 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D để giúp xương phát triển tốt, nhất là từ nguồn thực phẩm, thức ăn hàng ngày. Nên dùng sữa có hàm lượng chất béo thấp (3 cốc/ngày). Việc khám sức khỏe định kỳ là hết sức cần thiết với phụ nữ trung niên. Để sống khỏe mạnh ở tuổi mãn kinh, cần giữ cân nặng bình thường, ổn định huyết áp, giảm mỡ máu, vận động nhiều, ăn ít chất béo, tăng cường rau xanh, trái cây, chất xơ, tập thể dục đều đặn.

 Phụ nữ trung niên cần tập thể dục đều đặn và ăn nhiều rau, quả để phòng tránh bệnh tật.

Phụ nữ trung niên cần tập thể dục đều đặn và ăn nhiều rau, quả để phòng tránh bệnh tật.

Hội chứng tiền mãn kinh

Người phụ nữ trong thời kỳ phát triển, cơ thể liên tục tiết ra estrogen - nội tiết tố nữ - để tạo ra các đặc tính của phái nữ. Sang tuổi mãn kinh, buồng trứng trong cơ thể phụ nữ không phát triển, nội tiết tố không tiết ra nữa, bắt đầu thiếu hụt estrogen. Vùng khung chậu bị ảnh hưởng, rất dễ sinh ra các bệnh viêm âm đạo, ngứa âm hộ, rong kinh, âm đạo khô, giao hợp khó khăn..., có thể dẫn đến bệnh sa sinh dục, sa bàng quang, són tiểu. Thiếu estrogen cũng ảnh hưởng tới tâm thần kinh, tuyến nội tiết, hệ vận mạch, gây ra nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, bị bốc hỏa từng cơn, chóng mặt, hồi hộp không lý do, đau nhiều nơi trên cơ thể, dễ cáu gắt, sinh ra những lo âu, dễ buồn tủi... Phòng ngừa: Có thể uống estrogen thay thế nội tiết buồng trứng khi mãn kinh để điều hòa cơ thể, song phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư vú

Đây là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên - căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ trung niên: gia đình có mẹ hoặc chị em ruột bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3 - 5 lần; béo phì: nguy cơ gấp 3 lần; không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn; dậy thì sớm và mãn kinh muộn.

Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh; hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo; không nên uống rượu, đồ uống kích thích, không hút thuốc lá; tăng cường luyện tập... chị em nên tự khám mỗi tháng xem có gì bất thường ở ngực, nhũ hoa... đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực... thì có thể là dấu hiệu ung thư vú, hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị khi khối u còn nhỏ.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi đến tuổi tiền mãn kinh, lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn bùng nổ các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành...) ở phái nữ với diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu người ta thấy rằng, liệu pháp hormon thay thế không thể giúp được phụ nữ ở tuổi mãn kinh phòng ngừa được sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại, ví dụ thuốc lá, rượu bia... Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn, hiệu quả chữa trị kém hơn (các phương pháp can thiệp mạch vành hiện đại như thông mạch vành bằng cách đặt stent, nong mạch và nối mạch thông đạt hiệu quả thấp ở phụ nữ), nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Những biện pháp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ là giảm cân nếu bị thừa cân, luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý; không nên uống rượu bia, hút thuốc lá; tăng cường rèn luyện thể dục thể thao; chế độ ăn uống phải hợp lý; không ăn quá 5 - 6g muối/ngày; tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và axít béo không no Omega-3 để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa; hạn chế ăn thịt mỡ, da động vật và các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla; tăng số ngày ăn cá, đậu trong tuần, dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn...; luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza trong máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh...

ThS. Hà Hùng Thủy

Tránh sai lầm khi chăm sóc trẻ sau tiêm chủng

TS. Nguyễn Văn Cường, chuyên gia Dự án Tiêm chủng mở rộng quốc gia (TCMR) lưu ý các bậc cha mẹ về việc không nên làm sau tiêm chủng, đó là sử dụng thuốc không theo chỉ định của cán bộ y tế, bao gồm sử dụng thuốc hạ sốt; chườm, đắp, bôi thuốc hoặc bất cứ thứ gì lên vị trí tiêm, kể cả thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Chuyên gia cũng lưu ý thêm, các bà mẹ cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ. Không có chống chỉ định tiêm vắc-xin với các trẻ béo phì, các cháu suy dinh dưỡng. Cha mẹ cũng cần phải chủ động cho trẻ đi tiêm chủng phòng bệnh đúng lịch.

Theo TS. Nguyễn Văn Cường, phản ứng thông thường sau khi tiêm vắc-xin là đau tại chỗ tiêm trong vòng 24 giờ, sốt nhẹ (dưới 38,5oC), một số vắc-xin (như sởi - Rubella có thể có phát ban 7 - 10 ngày sau tiêm chủng, chiếm khoảng 2% các trường hợp).

Hiếm gặp các phản ứng nặng: co giật, tím tái, khó thở sau tiêm vắc-xin. Tuy nhiên, khi thấy có các biểu hiện bất thường khác nào về sức khỏe sau tiêm chủng hoặc khi phản ứng thông thường như: sốt, đau, hoặc sưng tấy tại chỗ tiêm, quấy khóc...) kéo dài trên một ngày hoặc gia đình không yên tâm về sức khỏe của trẻ thì cần đưa ngay trẻ tới bệnh viện hoặc các cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và xử trí.

Bà mẹ cần lưu ý những hướng dẫn bảo đảm an toàn cho trẻ sau tiêm chủng.

“Nguyên tắc chung” cho tiêm chủng an toàn

Tiêm chủng là cách tốt nhất để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ em. Trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch để phòng tránh những bệnh tật nguy hiểm như bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan b, bại liệt, sởi và viêm phổi/viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib... Các bậc cha mẹ cần giữ sổ và phiếu tiêm chủng đầy đủ để theo dõi lịch tiêm chủng của con mình. Các vắc-xin sử dụng trong chương trình tiêm chủng là an toàn, 100% các lô sản phẩm được kiểm định. Để chăm sóc sức khỏe trẻ tốt hơn khi đi tiêm chủng, các bà mẹ và người chăm trẻ cần lưu ý:

- Không để trẻ bị đói trước khi đi tiêm chủng. Cho trẻ ăn uống bình thường sau tiêm.

- Cần chủ động thông báo với cán bộ y tế về tình trạng sức khỏe của con mình như: đang ốm, sốt, sinh non, tiền sử dị ứng, có phản ứng mạnh với lần tiêm chủng trước và đề nghị được cán bộ y tế kiểm tra sức khỏe của con mình trước khi tiêm chủng. Hỏi cán bộ y tế loại vắc-xin trẻ được tiêm.

- Chú ý và thường xuyên theo dõi trẻ sau tiêm chủng: 30 phút tại điểm tiêm và ít nhất 24 giờ sau tiêm.

- Khi trẻ sốt, các bà mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt nhưng phải có chỉ định và hướng dẫn của cán bộ y tế.

- Nếu cha mẹ không yên tâm về tình trạng sức khỏe của con mình sau khi tiêm cần liên lạc với cán bộ y tế để được tư vấn cách chăm sóc trẻ.

- Nếu trẻ có các dấu hiệu bất thường như sốt cao, quấy khóc kéo dài, co giật, bỏ bú, khó thở, tím tái... các bà mẹ cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế. Những phản ứng nặng sau tiêm chủng thường hiếm gặp và sẽ qua khỏi nếu được phát hiện và xử trí kịp thời.

Vì sự an toàn của trẻ, các bà mẹ cần theo dõi trẻ sau tiêm chủng. Trẻ cần được theo dõi 30 phút tại điểm tiêm chủng và tiếp tục theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ sau tiêm chủng.

Dự án TCMR

Mẹo chọn cua đồng ngon

Nhà tôi có người già và trẻ nhỏ nên thường xuyên ăn cua đồng để bổ sung canxi. Đi chợ nhiều, tôi đã rút ra được kinh nghiệm chọn cua đồng ngon. Dưới đây là vài mẹo chọn cua đồng, tôi xin chia sẻ cùng các bạn:

Cua khỏe sẽ tươi ngon, vì thế tôi luôn chọn những con mình mập, di chuyển nhanh, càng khỏe, sẵn sàng phản ứng khi bị gắp. Cua phải còn đủ càng. Ngoài ra, cua khỏe cũng thường sủi bọt khí liên tục. Mua phải cua yếu hay cua chết, món canh thường có mùi khai.

Muốn phân biệt cua đực, cua cái, tôi nhìn vào yếm cua. Cua đực có yếm nhọn, cua cái có yếm to. Cua đực sẽ cho nhiều thịt còn cua cái sẽ cho nhiều gạch.

Những con cua ngon là những con cua có mai màu sáng, cứng và trơn.

Lật ngửa cua và nhấn tay vào yếm cua, có thể biết cua có chắc thịt hay không. Nếu yếm không lún thì đó là cua chắc, nhiều thịt. Nếu yếm lún là cua ốp, ít thịt, ăn không ngon và dễ có mùi khai.

Nhà tôi ít ăn cua vào giữa tháng âm lịch, lúc này cua lột vỏ nên bị gầy, ốp thịt. Đầu và cuối tháng âm là thời điểm cua ngon, béo và chắc ngọt nhất.

Thúy Ngân

(Theo VNExpress)

Tăng huyết áp và đái tháo đường

Tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ) là hai bệnh riêng biệt nhưng tiếc thay, chúng có mối liên quan khá mật thiết với nhau, thường đi song hành với nhau: đã mắc bệnh đái tháo đường thì rất dễ bị tăng huyết áp và ngược lại. Còn khi đã mắc cả hai thì nguy cơ biến chứng rất cao và gây khó khăn trong việc chữa trị bệnh.

Mối liên hệ giữa tăng huyết áp và đái tháo đường

Tăng biến chứng ở người vừa tăng huyết áp vừa đái tháo đường

Theo nhiều nghiên cứu, người ta thấy rằng THA và ĐTĐ thường kết hợp với nhau và tỷ lệ bệnh luôn tăng theo lứa tuổi. Tỷ lệ bệnh THA ở ĐTĐ týp 2 tăng 2,5 lần so với người không ĐTĐ. Ngược lại, khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ đồng thời bị THA (25% ở người trẻ và 75% người luống tuổi). Theo một nghiên cứu trên các phụ nữ bị THA, sau khi đã loại bỏ các tác động như hút thuốc, nghiện rượu, cân nặng, tiền sử gia đình và một số yếu tố khác, người ta thấy rằng: phụ nữ bị THA sẽ gia tăng nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 gấp 3 lần so với phụ nữ có trị số huyết áp bình thường.

tang-huyet-ap-va-dai-thao-duong

Tăng huyết áp và đái tháo đường có liên quan mật thiết với nhau

Tăng huyết áp góp phần quan trọng làm tăng mức độ nặng, tăng mức độ tàn phế và tỷ lệ tử vong của người bệnh đái tháo đường. Theo nghiên cứu Whitehall ở Anh theo dõi trong 10 năm, nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ có THA tăng gấp đôi người ĐTĐ không THA. Ngược lại, ĐTĐ cũng làm cho THA trở nên khó điều trị hơn. THA kéo dài sẽ làm tổn thương các mạch máu nhỏ và các mạch máu lớn, nếu không được điều trị sẽ gây ra các bệnh lý ở mắt, thận, tim mạch và có thể dẫn đến tai biến mạch máu não.

Chẩn đoán tăng huyết áp ở người đái tháo đường

Chẩn đoán là THA ở người ĐTĐ khi mức huyết áp tối đa ≥ 140mmHg hoặc/và huyết áp tối thiểu ≥ 90mmHg. Trên bệnh nhân ĐTĐ týp 1, THA thường đi kèm bệnh lý thận. Trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2, THA có thể cùng xuất hiện với các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch, các yếu tố này đều có cùng một rối loạn tiềm ẩn là đề kháng insulin và tăng insulin máu. Đặc điểm THA ở người ĐTĐ là tỷ lệ THA tâm thu đơn độc rất cao. Riêng ĐTĐ týp 2, THA gặp ở nữ nhiều hơn nam và huyết áp tâm thu tăng theo tuổi ở nữ chậm hơn. Ngoài mức độ thường gặp cao, bản thân THA làm tăng mạnh các yếu tố nguy cơ vốn đã tăng ở bệnh nhân ĐTĐ. ĐTĐ làm tăng nguy cơ bệnh lý mạch vành gấp 2 lần ở nam và 4 lần ở nữ. Khi mắc cả THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ và làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong khi so với bệnh nhân THA nhưng không bị ĐTĐ.

Do tầm quan trọng của mức huyết áp đối với bệnh nhân ĐTĐ nên khi phát hiện THA, các chuyên gia tim mạch khuyên nên làm thêm các xét nghiệm như: siêu âm doppler động mạch cảnh, động mạch thận, động mạch 2 chi dưới; siêu âm tim (đánh giá phì đại thất trái, chức năng tâm trương…); tìm microalbumine trong nước tiểu; soi đáy mắt; khám bàn chân; đo chỉ số huyết áp tâm thu còn gọi chỉ số huyết áp cổ chân/cánh tay (ABI: Ankle Brachial Index). Nếu có điều kiện, có thể theo dõi huyết áp trong 24 giờ (Holter huyết áp 24 giờ).

TS.BS. Bùi Nguyên Kiểm